Chinh Phụ Ngâm Khúc

Nguyên tác chữ Hán của tiên sinh Đặng Trần Côn,
được nữ sĩ Đoàn Thị Điểm diễn Nôm


Thủa trời đất nổi cơn gió bụi,
Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên
Xanh kia thăm thẳm từng trên!
V́ ai gây dựng cho nên nỗi này.
Trống Tràng Thành lung lay bóng nguyệt,
Khói Cam Tuyền mờ mịt thức mây.
Chín tầng gươm báo trao tay,
Nửa đêm truyền hịch định ngày xuất chinh.
Nước thanh b́nh ba trăm năm cũ
Áo nhung trao quan vũ từ đây
Sứ trời sớm giục đường mây
Phép công là trọng niềm tây sá nào.
Đường giong ruổi lưng đeo cung tiễn,
Buổi tiễn đưa ḷng bận thê noa.
Bóng cờ, tiếng trống xa xa,
Sầu lên ngọn ải, oán ra cửa pḥng.
 

Chàng tuổi trẻ vốn ḍng hào kiệt
Xếp bút nghiên theo việc đao cung,
Thành-liền mong tiến bệ Rồng,
Thước gươm đă quyết chẳng dung giặc trời.
Chí làm trai dặm ngh́n da ngựa
Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao.
Giă nhà đeo bức chiến bào
Thét roi cầu Vỵ ào ào gió thu.
Ng̣i đầu cầu nước trong như lọc,
Đường bên cầu cỏ mọc c̣n non,
Đưa chàng ḷng dặc dặc buồn,
Bộ khôn bằng ngựa, thủy khôn bằng thuyền.
Nước trong chảy, ḷng phiền chẳng rửa,
Cỏ xanh thơm, dạ nhớ khó quên.
Nhủ rồi tay lại trao liền,
Bước đi một bước lại vin áo chàng.
Ḷng thiếp tựa bóng trăng theo dơi,
Dạ chàng xa ngoài cơi Thiên Sơn.
Múa gươm rượu tiễn chưa tàn,
Chỉ ngang ngọn giáo vào ngàn hang beo.
Săn Lâu Lan rằng theo Giới Tử,
Tới Man Khê bàn sự Phục Ba.
Áo chàng đỏ tựa ráng pha,
Ngựa chàng sắc trắng như là tuyết in.
Tiếng nhạc ngựa lần chen tiếng trống,
Giáp mặt rồi phút bỗng chia tay.

Hà lương chia rẽ đường này,
Bên đường trông bóng cờ bay ngùi ngùi.
Quân trước đă gần ngoài doanh Liễu,
Kỵ sau c̣n khuất nẻo Tràng Dương.
Quân đưa chàng ruổi lên đường,
Liễu dương biết thiếp đoạn trường này chăng?
Tiếng địch trổi ghe chừng đồng vọng,
Hàng cờ bay trông bóng phất phơ.
Dấu chàng theo lớp mây đưa,
Thiếp nh́n rặng núi ngẩn ngơ nỗi nhà.
Chàng th́ đi cơi xa mưa gió,
Thiếp lại về buồng cũ gối chăn,
Đoái trông theo, đă cách ngăn,
Tuôn màu mây biếc, trải ngần núi xanh.
Chốn Hàm dương chàng c̣n ngoảnh lại,
Bến Tiêu Tương thiếp hăy trông sang.
Khói Tiêu Tương cách Hàm Dương,
Cây Hàm Dương cách Tiêu Tương mấy trùng.
Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy,
Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu,
Ngàn dâu xanh ngắt một màu,
Ḷng chàng, ư thiếp ai sầu hơn ai?
 

Chàng từ đi vào nơi gió cát,
Đêm trăng này, nghỉ mát phương nao.
Xưa nay chiến địa dường bao,
Nội không muôn dặm, xiết bao dăi dầu.
Hơi gió lạnh, người rầu mặt dạn,
Ḍng nước sâu, ngựa nản chân bon,
Ôm yên, gối trống đă chồn.
Nằm vùng cát trắng, ngủ cồn rêu xanh.
Nay Hán xuống Bạch thành đóng lại,
Mai Hồ vào Thanh Hải ḍm qua.
H́nh khe thế núi gần xa
Đứt thôi lại nối, thấp đà lại cao.
Sương đầu núi buổi chiều như dội,
Nước ḷng khe, nẻo suối c̣n sâu,
Năo người áo giáp bấy lâu,
Ḷng quê qua đó mặt sầu chẳng khuây.
Trên trướng gấm, có hay chăng nhẻ?
Mặt chinh phu, ai vẽ cho nên,
Tưởng chàng giong ruổi mấy niên,
Chẳng nơi Hăn Hải th́ miền Tiêu Quan.
Đă trắc trở đ̣i ngàn xà hổ,
Lại lạnh lùng những chỗ sương phong.
Lên cao trông thức mây lồng,
Ḷng nào là chẳng động ḷng bi thương.

Chàng từ sang đông nam khơi nẻo,
Biết nay chàng tiến thảo nơi đâu?
Những người chinh chiến bấy lâu,
Nhẹ xem tính mệnh như mầu cỏ cây.
Nức hơi mạnh, ân dày từ trước,
Trải chốn nghèo, tuổi được bao nhiêu?
Non Kỳ quạnh quẽ trăng treo
Bến Ph́ gió thổi đ́u hiu mấy g̣.
Hồn tử sĩ gió ù ù thổi,
Mặt chinh phu trăng dơi dơi soi.
Chinh phu, tử sĩ mấy người,
Nào ai mạc mặt nào ai gọi hồn?
Dấu binh lửa nước non như cũ,
Kẻ hành nhân qua đó chạnh thương.
Phận trai: già cơi chiến trường,
Chàng Siêu mái tóc điểm sương mới về.
Tưởng chàng trải nhiều bề nắng nỏ,
Ba thước gươm, một cỗ nhung yên.
Xông pha gió băi trăng ngàn,
Tên reo đầu ngựa giáo lan mặt thành.
Áng công danh trăm đường rộn ră,
Những nhọc nhằn nào đă nghỉ ngơi.
Nỗi ḷng biết ngỏ cùng aỉ
Thiếp trong cánh cửa, chàng ngoài chân mây.
 

Trong cửa này, đă đành phận thiếp,
Ngoài mây kia, há kiếp chàng vay ?
Những mong cá nước vui vầy
Nào ngờ đôi ngả nước mây cách vời.
Thiếp chẳng tưởng ra người chinh phụ,
Chàng há từng học lũ Vương Tôn,
Cớ sao cách trở nước non?
Khiến người thôi sớm, thôi hôm những sầu.
Khách phong lưu đang chừng niên thiếu,
Sánh nhau cùng dan díu chữ duyên
Nỡ nào đôi lứa thiếu niên,
Quan san đễ cách hàn huyên bao đành.
Thuở lâm hành oanh chưa bén liễu,
Hỏi ngày về, ước nẻo quyên ca,
Nay quyên đă giục oanh già,
Ư nhi lại gáy trước nhà líu lo.
Thủa đăng đồ mai chưa dạn gió,
Hỏi ngày về, chỉ độ đào bông,
Nay đào đă quyến gió đông,
Phù dung lại đă bên sông bơ sờ..
Hẹn cùng ta: Lũng Tây nham ấy,
Sớm đă trông, nào thấy hơi tăm?
Ngập ngừng, lá rụng cành trâm,
Buổi hôm nghe dậy tiếng cầm xôn xao.
Hẹn nơi nao, Hán Dương cầu nọ,
Chiều lại t́m nào có tiêu hao.
Ngập ngừng gió thổi chéo bào,
Băi hôm tuôn dẫy nước trào mênh mông.
 

Tin thường lại, người không thấy lại,
Hoa dương tàn đă trải rêu xanh.
Rêu xanh mấy lớp chung quanh,
Dạo sân một bước, trăm t́nh ngẩn ngơ.
Thư thường tới người chưa thấy tới,
Bực rèm thưa lần dăi bóng dương.
Bóng dương mấy buổi xuyên ngang,
Lời sao mười hẹn, chín thường đơn sai.
Thử tính lại diễn khơi ngày ấy,
Tiễn sen này đă nẩy là ba.
Xót người lần lữa ải xa,
Xót người nương chốn Hoàng Hoa dặm dài.
T́nh gia thất nào ai chẳng có,
Ḱa lăo thân khuê phụ nhớ thương.
Mẹ già phơ phất mái sương,
Con thơ măng sữa vả đương bù tŕ
Ḷng lăo thân buồn khi tựa cửa
Miệng hài nhi chớ bữa mớm cơm
Ngọt bùi thiếp đă hiếu nam,
Dạy con đèn sách, thiếp làm phụ thân
Này một thân nuôi già, dạy trẻ,
Nỗi quan hoài mang mể biết bao.
Nhớ chàng trải mấy sương sao,
Xuân từng đổi mới đông nào c̣n dư.
Kể năm đă: ba tư cách diễn,
Mối sầu thêm ngh́n vạn ngổn ngang.
Ước ǵ gần gũi tấc gang,
Giăi niềm cay đắng để chàng tỏ hay.
Thoa cung Hán thủa ngày xuất giá,
Gương lầu Tần dấu đă soi chung.
Cậy ai mà gửi tới cùng?
Để chàng thấu hết tấm ḷng tương tư.
Nhẫn đeo tay mọi khi ngắm nghía,
Ngọc cài đầu thủa bé vui tươi.
Cậy ai mà gửi tới nơi?
Để chàng trân trọng dấu người tương thân.
 

Trải mấy xuân tin đi tin lại,
Tới xuân này tin hăy vắng không.
Thấy nhạn luống tưởng thư phong,
Nghe hơi sương sắm áo bông sẵn sàng.
Gió tây nổi không đường hồng tiện
Xót cơi ngoài tuyết quyến mưa sa,
Màn mưa trướng tuyết xông pha,
Nghĩ thêm lạnh lẽo kẻ ra cơi ngoài.
Đề chữ gấm, phong thôi lại mở,
Gieo bói tiền, tin dở c̣n ngờ,
Trời hôm tựa bóng ngẩn ngơ
Trăng khuya, nương gối, bơ phờ tóc mai.
Há như ai, hôn sai bóng lẫn,
Bỗng thơ thơ thẩn thẩn hư không.
Trâm cài, xiêm giắt thẹn thùng,
Lệch làn tóc rối, lỏng ṿng lưng eo.
Dạo hiên vắng, thầm gieo từng bước,
Bức rèm thưa rủ thác đ̣i phen.
Ngoài rèm thước chẳng mách tin,
Trong rèm, dường đă có đèn biết chăng?
Đèn có biết, dường bằng chẳng biết,
Ḷng thiếp riêng bi thiết mà thôi
Buồn rầu nói chẳng nên lời,
Hoa đèn kia với bóng người khá thương!
Gà eo óc gáy sương năm trống
Ḥe phất phơ rủ bóng bốn bên
Khắccho chờ đằng đăng như niên,
Mối sầu dằng dặc tựa miền bể xa.
Hương gượng đốt, hồn đà mê mải,
Gương gượng soi, lệ lại chứa chan
Sắc cầm gượng gảy ngón đàn,
Dây uyên kinh đứt, phím loan ngại chùng.
Ḷng này gửi gió đông có tiện
Ngh́n vàng xin gửi đến non Yên.
Non Yên dù chẳng tới miền,
Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời.
 

Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu,
Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong.
Cảnh buồn người thiết tha ḷng,
Cành cây sương đượm tiếng trùng mưa phun.
Sương như búa, bổ ṃn gốc liễu,
Tuyết dường cưa xẻ héo cành ngô,
Giọt sương phủ bụi chim gù,
Sâu tường kêu vẳng, chuông chùa nện khơi.
Vài tiếng dế, nguyệt soi trước ốc,
Một hàng tiêu, gió thốc ngoài hiên.
Lá màn lay, ngọn gió xuyên,
Bóng hoa theo bóng nguyệt lên trước rèm.
Hoa giăi nguyệt, nguyệt in một tấm,
Nguyệt lồng hoa, hoa thắm từng bông
Nguyệt hoa, hoa nguyệt trùng trùng,
Trước hoa, dưới nguyệt, trong ḷng xiết đâu.
Đâu xiết kể muôn sầu, ngh́n năo,
Từ nữ công, phụ xảo đều nguôi.
Biếng cầm kim, biếng đưa thoi,
Oanh đôi thẹn dệt, bướm đôi ngại thùa.
Mặt biếng tô, miệng càng biếng nói,
Sớm lại chiều, ḍi dơi nương song.
Nương song luống ngẩn ngơ ḷng,
Vắng chàng điểm phấn trang hồng với ai.
Biếng trang điểm, ḷng người sầu tủi,
Xót nỗi chàng ngoài cơi trùng quan.
Khác ǵ ả Chức, chị Hằng,
Bến Ngâu sùi sụt, cung trăng chốc ṃng.
Sầu ôm nặng hăy chồng làm gối,
Buồn chứa đầy hăy thổi làm cơm.
Mượn hoa mượn rượu giải buồn,
Sầu làm rượu nhạt, muộn làm hoa ôi.
 

Gơ sanh ngọc, mấy hồi không tiếng,
Ôm đàn tranh, mấy phiếm rời tay,
Xót người hành dịch bấy nay,
Dặm xa mong mỏi hết đầy lại vơi.
Ca quyên ghẹo, làm rơi nước mắt,
Trống tiều khua như đốt buồng gan,
Vơ vàng đổi khác dung nhan,
Khuê ly mới biết tân toan dường này.
Nếm chua cay, tấm ḷng mới tỏ,
Chua cay này, há có v́ aỉ
V́ chàng, lệ thiếp nhỏ đôi,
V́ chàng thân thiếp lẽ loi một bề.
Thân thiếp chẳng gần kề dưới trướng,
Lệ thiếp nào chút vướng bên khăn,
Duy c̣n hồn mộng được gần,
Đêm đêm thường tới Giang Tân t́m người.
 

T́m chàng thủa Dương Đài lối cũ,
Gặp chàng nơi Tương Phố bến xưa,
Sum vầy mấy lúc t́nh cờ,
Chẳng qua trên gối một giờ mộng xuân.
Giận thiếp thân lại không bằng mộng,
Được gần chàng bến Lũng, thành Quan.
Khi mơ những tiếc khi tàn,
T́nh trong giấc mộng, muôn vàn cũng không!
Vui có một tấm ḷng chẳng dứt,
Vốn theo chàng giờ khắc nào nguôi,
Ḷng theo nhưng chửa thấy người,
Lên cao mấy lúc trông vời bánh xe.
Trông bến nam băi che mặt nước,
Cỏ biếc um, dâu mướt màu xanh,
Nhà thôn mấy xóm chông chênh,
Một đàn c̣ đậu trước ghềnh chiều hôm.
Trông đường bắc, đôi cḥm quán khách,
Rưm rà cây xanh ngất núi non
Lúa thành thoi thóp bên cồn,
Nghe thôi địch ngọc véo von bên lầu.
 

Non đông thấy lá hầu chất đống,
Trĩ sập sè, mai cũng bẻ bai.
Khói mù nghi ngút ngàn khơi,
Con chim bạt gió, lạc loài kêu sương.
Lũng Tây thấy nước dường uốn khúc,
Nhạn liệng không, sóng giục thuyền câu,
Ngàn thông chen chúc khóm lau,
Cách nghềnh thấp thoáng người đâu đi về.
Trông bốn bề chân trời mặt đất,
Lên xuống lầu thấm thoắt đôi phen.
Lớp mây ngừng mắt ngại nh́n,
Biết đâu chinh chiến là miền Ngọc quan?
Gậy rút đất dễ khôn học chước,
Khăn gieo cầu nào được thấy tiên,
Ḷng này hóa đá cũng nên,
E không lệ ngọc mà lên trông lầu.
Lúc nghoảnh lại ngắm mầu dương liễu,
Thà khuyên chàng đừng chịu tước phong,
Chẳng hay muôn dặm ruổi giong,
Ḷng chàng biết có như ḷng thiếp chăng?
Ḷng chàng ví cũng bằng như thế,
Ḷng thiếp đâu dám nghĩ gần xa.
Hướng dương ḷng thiếp như hoa,
Ḷng chàng lẩn thẩn e tà bóng dương.
Bóng dương để hoa vàng chẳng đoái,
Hoa để vàng bởi tại bóng dương,
Hoa vàng hoa rụng quanh tường,
Trải xem hoa rụng đêm sương mấy lần?
 

Chồi lan nọ trước sân đă hái,
Ngọn tần kia bên băi đưa hương,
Sửa xiêm dạo bước tiền đường,
Ngửa trong xem vẻ thiên chương thẫn thờ.
Bóng Ngân Hà khi mờ khi tỏ,
Độ Khuê Triền buổi có, buổi không.
Thức mây đ̣i lúc nhạt nồng,
Chuôi sao Bắc Đẩu thôi Đông lại Đoài.
Mặt trăng tỏ thường soi bên gối
Bừng mắt trông sượng gội cành khô
Lạnh lùng thay bấy nhiêu thu
Gió may hiu hắt trên đầu tường vôị
Một năm một nhạt mùi son phấn,
Trượng phu c̣n thơ thẩn miền khơi,
Xưa sao h́nh ảnh chẳng rời,
Bây giờ nỡ để cách vời Sâm Thương.
Chàng ruổi ngựa dặm trường mây phủ,
Thiếp dạo hài lầu cũ rêu in
Gió xuân ngày một vắng tin,
Khá thương lỡ hết mấy phen lương th́
Xảy nhớ khi cành Diêu đóa Ngụy,
Trước gió xuân vàng tía sánh nhau,
Nọ th́ ả Chức, chàng Ngâu,
Tới trăng thu lại bắc cầu sang sông.
Thương một kẻ pḥng không luống giữ,
Thời tiết lành, lầm lỡ đ̣i nau.
Thoi đưa ngày tháng ruổi mau,
Người đi thấm thoắt qua màu xuân xanh.
Xuân thu để giận quanh ở dạ,
Hợp ly đành buồn quá khi vui.
Oán sầu nhèo rối tơi bời,
Vóc bồ liễu dễ ép nài chiều xuân.
Ḱa Văn Quân mỹ miều thủa trước,
E đến khi đầu bạc mà thương,
Mặt hoa nọ, gă Phan Lang,
Sợ khi mái tóc điểm sương cũng ngừng.
Nghĩ nhan sắc đương chừng hoa nở,
Tiếc quang âm lần lữa gieo qua,
Nghĩ mệnh bạc, tiếc niên hoa,
Gái tơ mấy chốc xảy ra nạ ḍng.
Gác nguyệt nọ mơ màng vẻ mặt,
Lầu hoa kia, phảng phất mùi hương.
Trách trời sao để nhỡ nhàng,
Thiếp rầu thiếp, lại rầu chàng chẳng quên.
 

Chàng chẳng thấy chim uyên ở nộỉ
Cũng dập d́u, chẳng vội phân trương,
Chẳng xem chim yến trên rường,
Bạc đầu không nỡ đôi đường rẽ nhau.
Ḱa loài sâu đôi đầu cùng sánh,
Nọ loài chim chắp cánh cùng bay.
Liễu, sen, là thức cỏ cây,
Đôi hoa cũng dính, đôi cây cũng liền.
Ấy loài vật t́nh duyên c̣n thế,
Sao kiếp người nỡ để đấy đây.
Thiếp xin vềkiếp sau này,
Như chim liền cánh, như cây liền cành.
Đành muôn kiếp chữ t́nh đă vậy,
Theo kiếp này hơn thấy kiếp sau.
Thiếp xin chàng chớ bạc đầu,
Thiếp th́ giữ măi lấy màu trẻ trung.
Xin làm bóng theo cùng chàng vậy,
Chàng đi đâu cũng thấy thiếp bên,
Chàng nương vầng nhật, thiếp nguyền,
Mọi bề trung hiếu, thiếp xin vẹn tṛn.
 

Ḷng hứa quốc tựa son ngăn ngắt,
Sực tư dân dường sắt trơ trơ,
Máu Thiền Vu quắc Nhục Chi,
Ấy th́ bữa uống, ấy th́ bữa ăn.
Mũi đ̣ng vác đ̣i lần hăm hở,
Đă ḷng trời ǵn giữ người trung,
Hộ chàng trăm trận nên công,
Buông tên ải Bắc treo cung non Đoài.
Bóng kỳ xí giă ngoài quan ải,
Tiếng khải ca trở lại Thần kinh,
Đĩnh non kia, đá đề danh,
Triều Thiên vào trước cung đ́nh dâng công.
Nước Ngân Hán vác đ̣ng rửa sạch
Khúc nhạc từ réo rắt lừng khen
Tài so Tần, Hoắc, vẹn tuyền,
Tên ghi gác "Khói", tượng truyền đài "Lân"
Nền huân tướng đại cân rạng vẻ
Chữ đồng hưu bia để ngh́n đông
Ân trên tử ấm thê phong
Phần vinh thiếp cũng đượm chung hương trời
 

Thiếp chẳng dại như người Tô phụ,
Chàng hẳn không như lũ Lạc Dương.
Khi về đeo quả ấn vàng,
Trên khung cửi dám rẫy ruồng làm cao.
Xin v́ chàng xếp bào cởi giáp,
Xin v́ chàng dũ lớp phong sương,
V́ chàng, tay chuốc chén vàng,
V́ chàng điểm phấn đeo hương năo nùng.
Mở khăn lệ, chàng trông từng tấm,
Đọc thơ sầu, chàng thẩm từng câu,
Câu vui đổi với câu sầu,
Rượu khà cùng kể trước sau mọi lời.
Sẽ rót vơi lần lần từng chén,
Sẽ ca dần ren rén từng thiên,
Liên ngâm đối ẩm đ̣i phen,
Cùng chàng lại kết mối duyên đến già.
Cho bơ lúc xa sầu cách nhớ,
Giữ ǵn nhau vui thủa thanhb́nh.

Ngâm nga, mong gửi chữ t́nh:
Dường này âu hẳn tài lành trượng phu.

 

hết


 

Tiểu Sử
Nữ Sĩ Đoàn Thị Điểm


Bà Đoàn Thị Điểm nguyên họ Đoàn, lấy chồng họ Nguyễn, lại theo họ chồng thường gọi là Nguyễn Thị Điểm, người làng Hiếu Phạm, huyện Văn Giang, tỉnh Bắc Ninh. Bà là em gái ông Giám Sinh (tiến sĩ) Đoàn Luân, biệt hiệu là Hồng Hà Nữ Sĩ, sinh đầu thế kỷ XVIII đời Lê. Tư chất bà rất thông minh, từ năm lên sáu tuổi đă học đến Sử Kư.

Một hôm, ông Luân lấy chữ Sử Kư Hán Cao Tổ ra cho bà một câu nguyên văn:

"Bạch xà đương đạo, Quí bạt kiếm nhi trảm chi"
(Con rắn trắng đón đường, ông Quí rút gươm mà chém đấy).

Bà liền lấy một câu nguyên văn ở Sử Kư, điển ông Vũ đời Thuấn mà đối rằng:

"Hoàng Long phụ châu, Vũ ngưỡng thiên nhi thán viết"
(Con rồng vàng đội chiếc thuyền, ông Vũ trông trời mà than rằng).

Đối như vậy mỗi chữ xứng nhau, lại dùng cả chữ ở nguyên văn Sử Kư.

Lại một hôm, bà soi gương, ông Luân ra câu đối rằng:

"Đối kỉnh họa my, nhất điểm phiên thành lưỡng điểm"
(Soi gương vẽ mày, một chấm hóa ra hai chấm).

Câu này có chữ Điểm nghĩa là chấm, lại là tên của bà.

Bà đối ngay lại rằng:

"Lâm tŕ ngoạn nguyệt, chích luân chuyển tác song luân"
(Đến ao xem trăng, một vành hiện ra hai vành).

Chữ Luân là vành lại là tên ông Luân. Đối có tài và lanh, thật đáng gọi là Tiên Phận Thiên Tài khá cao vậy.

Khi có sứ Tàu sang, bà giả làm người bán quán rượu. Sứ Tàu vào uống rượu thấy bà đang biên sổ, lại thấy ở cột quán rượu có lắm câu đối hay, và bên ghế bà ngồi có nhiều sách vở, mới ra cho bà một câu đối rằng:

"An Nam nhất thốn thổ, bất tri kỷ nhân canh"
(An Nam một tấc đất, chẳng biết mấy người cày) - có ư xấc ngạo và ghẹo chọc.

Bà đối ngay rằng:

"Bắc quốc chư đại phu, giai nho thử đồ xuất"
(Nước Bắc (Tàu) các vị đại phu thảy do đường ấy mà ra cả).

Bà cũng đáp lời phúng thích lại chẳng chịu kém ư lời ra đối. Các sứ giả chịu tài và cũng lấy làm thẹn.

Bà có tài học cao siêu nên phải ở nơi địa vị kén chồng, muốn kén cả người có đủ tài ba và môn hộ tương đương, nên đă lâu không có người vừa ư. Sau bà đă ba mươi tuổi, mới kết duyên làm thứ nhất ông Nguyễn Kiều, làm quan Thượng Thư, hiệu là Hạo Hiên, cùng nhau ở chốn khuê pḥng yêu kính đáng gọi là "Tương Kính Như Tân".

Khi ông mất, học tṛ ông theo học với bà. Bà mở trường dạy học, măi đến bảy mươi tuổi mới từ trần.

Bà có soạn tập "Tục Truyền Kỳ" và diễn Nôm bài "Chinh Phụ Ngâm" này


 

Tiểu Sử
Tiên Sinh Đặng Trần Côn


Đặng Trần Côn tiên sinh người làng Nhân Mục (tục gọi làng Mọc) huyện Thanh Tŕ, tỉnh Hà Đông.

Tiên sinh sinh đời Lê Dụ Tông, trong buổi Trịnh Cương xưng chúa, cầm quyền, phong tước An Đô Vương. Lúc bấy giờ trong thành Thăng Long thường có hỏa hoạn có lệnh cấm lửa. Nhưng tiên sinh hiếu học là người hiếu học nên phải đào hầm chong đèn mà học suốt canh khuya.

Tiên sinh ưa ngâm vịnh, nghe bà Đoàn Thị Điểm hay chữ, hay thơ, bèn làm một bài thơ đến yết kiến bà. Bà xem thơ, cười mà bảo rằng: nên học thêm sẽ làm thơ. Tiên sinh lấy làm thẹn, về ra sức nghiên tinh đàn tứ. Về sau tiên sinh thi đỗ chức Hương Cống (cử nhân) và vẫn chăm học, tay không hề rời quyển sách.

Đời niên hiệu Cảnh Hưng (1740-1786) đời Hậu Lê gặp buổi binh cách, lính thú đi chinh thú nhiều nơi, đă diễn nên lắm nỗi biệt ly đau đớn, tiên sinh xúc cảm làm bài "Chinh Phụ Ngâm", theo thể thơ xưa (Cổ nhạc phủ) từ điệu thanh tao và phiêu dật lâm ly. Tiên sinh đem đưa ông Ngô Th́ Sĩ. Ông Sĩ đọc xong rất thán phục mà nói rằng: "Như bài này th́ đă áp đảo được lăo Ngô này rồi".

Sau tiên sinh lại đưa cho bà Đoàn Thị Điểm xem. Bà khen hay và đem diễn Nôm, điệu song thất lục bát. Làm xong, bà đưa cho tiên sinh xem. Tiên sinh tỏ ra kính phục tài miệng gấm ḷng thêu của bà, chịu tôn bà làm bậc sư bá.

Bài "Chinh Phụ Ngâm" truyền tụng khắp trong nước, lan đến bên Tàu, cũng phải khen tài thanh-nghệ-luật của tiên sinh. Quả thật như vậy, thơ tiên sinh cổ thể, cận thể đă học đúng đủ các phép, cho nên thi phái đời Hâu Lê nhờ tiên sinh d́u dắt mà chấn hưng nhiều.

Về sau tiên sinh làm chức Huấn Đạo rồi lần hồi thăng đến chức Ngự Sử Đài. Tính tiên sinh rất khoáng dật, thích ngao du với trăng gió rượu trà. Ngoài bài "Chinh Phụ Ngâm", c̣n lắm bài thơ phú khác, như "Tiêu Tương Bát Cảnh", "Trương Hàn Tư Thuần Lư", "Trương Lương Bố Y", "Khấu Môn Thanh",...

 

 

Trang Chính   Thơ   Văn    Nhạc    Ảnh   Trang Dành Cho Bạn    Sưu Tầm